Bạn đang ở:

News

Tập huấn Điều tra nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ

Email In PDF.

Sáng ngày 16/01/2015, Sở KH&CN phối hợp với Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Tham dự Hội nghị có ông Phạm Ngọc Sinh – PGĐ Sở KH&CN, ông Lê Quý Đạt – Phó Cục trưởng Cục Thống kê và hơn 90 cán bộ làm công tác thống kê đến từ các Sở, Ban, ngành, các trường Đại học, Cao đẳng và các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

image001tttHội nghị đã phổ biến những văn bản hướng dẫn việc thi hành Luật KH&CN năm 2013 như: Nghị định 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, thay thế cho Nghị định 159/2004/NĐ-CP; Nghị định 08/2014/NĐ-CP ngày 27/1/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 11, 12, 15, 25, 30, 32, 41, 43, 46 và một số vấn đề cần thiết khác của Luật KH&CN; Thông tư số 14/2014/TT-BKHCN ngày 11/6/2014 của Bộ KH&CN qui định về việc thu thập, đăng ký, lưu giữ và công bố thông tin về nhiệm vụ KH&CN. Một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư này là quy định 04 loại hình KHCN phải thực hiện cung cấp thông tin về ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KHCN, gồm: Đề tài KHCN; đề án khoa học; dự án sản xuất thử nghiệm và dự án KHCN. Hội nghị tập huấn đã mang lại những kiến thức cơ bản để các cán bộ làm công tác thống kê triển khai thực hiện Kế hoạch "Điều tra, thống kê và đánh giá kết quả ứng dụng các nhiệm vụ KH&CN tỉnh Quảng Nam từ năm 2006 đến nay" theo chỉ đạo của UBND tỉnh đạt kết quả tốt nhất.

Phạm Tín

Hội nghị sơ kết Triển khai thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ cấp tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn 2020

Email In PDF.

Thực hiện Nghị quyết số 58/2006/NQ-HĐND ngày 20/7/2006 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Quảng Nam về "Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Quảng Nam đến 2015, tầm nhìn 2020" Sáng ngày 11/6/2014 UBND tỉnh tổ chức Chương trình hội nghị sơ kết triển khai thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ cấp tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn 2020.

nqIMG 1440
Theo báo cáo của UBND tỉnh, trong giai đoạn 2007-2014 có 86/112 đề tài cấp tỉnh được thực hiện, các nhiệm vụ KH&CN đã bám sát 9 chương trình KH&CN cấp tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn 2020, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và góp phần giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra. Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện các chương trình KH&CN vẫn còn những hạn chế nhất định, cụ thể: 1/ Công tác quản lý nhà nước các nhiệm vụ KH&CN tuy đổi mới và có hệ thống, nhưng còn bất cập: chưa thực hiện triệt để việc khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết chất lượng các nội dung đặt ra của nhiệm vụ KH&CN...2/ Một số chương trình chưa được triển khai hết các nội dung đã đề ra, giữa các chương trình chưa có sự cân đối về số lượng nhiệm vụ KH&CN khi các tổ chức và cá nhân đăng ký/đề xuất. 3/ Việc triển khai nhân rộng, đưa các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống còn chậm, không mang tính thời vụ. 4/ Về đầu tư tiềm lực phát triển KH&CN đã được quan tâm nhưng chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Sau khi nghe báo cáo sơ kết triển khai thực hiện các chương trình KH&CN cấp tỉnh đến năm 2015, tầm nhìn 2020 của sở Khoa học và công nghệ cùng các báo cáo tham luận của Sở NN&PTNT, Sở Y tế, UBND thành phố Hội An, Sở GD&ĐT. Ông Nguyễn Ngọc Quang - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, chủ trì kết luận như sau:
1- Cần đổi mới tư duy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển KH&CN.
2- Đổi mới cơ chế và tăng cường quản lý nhà nước về KH&CN
3- Xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai đồng bộ tấc cả các nội dung của các chương trình KH&CN cấp tỉnh trong thời gian đến
4- Tập trung đầu tư phát triển tiềm lực, xây dựng chương trình và kế hoạch cụ thể về KH&CN
5- Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của KH&CN tạo không khí thi đua lao động sáng tạo, nghiên cứu, ứng dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.
6- Tăng cường hợp tác giữa tỉnh với các cơ quan khoa học đầu ngành, các tỉnh phát triển về KH&CN. Khuyến khích các tổ chức , cá nhân hợp tác với các cơ quan khoa học trung ương, địa phương, các cơ quan khoa học nước ngoài thực hiện nghiên cứu – triển khai và đầu tư cho KH&CN của tỉnh.

Thanh Bình

Xác định nhiệm vụ khoa học công nghệ năm 2014 và nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, giai đoạn 2014- 2020

Email In PDF.

Sáng ngày 03/10/2013, tại phòng họp Sở Khoa học và Công nghệ, UBND Tỉnh tổ chức cuộc họp Hội đồng Khoa học và công nghệ của Tỉnh để xác định nhiệm vụ khoa học công nghệ năm 2014 và nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, thực hiện giai đoạn 2014- 2020. Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Quang- Phó Chủ tịch TT.UBND Tỉnh, Chủ tịch Hội đồng khoa học tỉnh chủ trì hội nghị, tham dự có Phó Chủ tịch Hội đồng, Thạc sỹ, Phạm Viết Tích- Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cùng các thành viên Hội đồng khoa học tỉnh là giám đốc, phó giám đốc các Sở, ban ngành của Tỉnh (thành lập theo quyết định số 1610/QĐ-UBND ngày 17/5/2013).

WP_20131003_001

Cuộc họp đã nghe phó chủ tịch Hội đồng Phạm Viết Tích báo cáo giải trình Hội đồng khoa học công nghệ tỉnh về việc xác định nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh năm 2014, theo đó trong tổng số 91 phiếu đề xuất (trong đó có 3 phiếu đề xuất có ý kiến của Thường trực tỉnh uỷ, UBND tỉnh), Sở Khoa học và Công nghệ lựa chọn và trình Hội đồng 18 đề xuất (có 1 đề xuất có ý kiến UBND Tỉnh) và giải trình những nội dung chấp nhận đề xuất và không chấp nhận đề xuất và Báo cáo xác định nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực hiện trong năm 2014-2010. Từng thành viên Hội đồng đã tham gia ý kiến, phên tích sự cần thiết các đề tài khoa học cần thông qua để thực hiện trong năm 2014 và giải thích những nội dung liên quan cần làm rõ, hội đồng thống nhất thông qua nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh, thực hiện giai đoạn 2014- 2020. Chủ tịch Hội đồng, Tiến sỹ  Nguyễn Ngọc Quang chỉ đạo: Sở Khoa học và công nghệ sớm tham mưu UBND tỉnh thành lập Quỹ Khoa học công nghệ để hàng năm sử dụng nguồn quỹ này hỗ trợ cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ trên địa bàn có ý nghĩa trong việc ứng dụng tiến bộ KH,CN và sản suất, đời sống, ..., đồng thời khẩn trương tham mưu UBND tỉnh xây dựng thư viện đề tài khoa học công nghệ để kết nối với cả nước để theo dõi, quản lý và phát triển sự nghiệp khoa học công nghệ của tỉnh, tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về khoa học công nghệ của tỉnh phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà. Đề nghị Hội đồng thống nhất bổ sung 2 đề tài: “Giải pháp tổng hợp tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” do sở Tài nguyên và môi trường đề xuất và đề tài “Giải pháp bảo tồn bề mặt văn hoá Chăm” do Sở văn hoá Thể dục, thể thao đề xuất vào danh mục các nhiệm vụ khoa học công nghệ năm 2014. Đề nghị Hội đồng cần xem xét, thẩm định kỹ nội dung đề cương chi tiết các nhiệm vụ khoa học công nghệ được thống nhất bỏ phiếu thông qua nhằm nâng cao chất lượng, tính khả thi của sản phẩm phù hợp với kinh phí thực hiện đề tài khi ứng dụng, thực hiện sau khi nghiệm thu, ứng dụng trong thực tiễn.

Qua phần bỏ phiếu, đánh giá phân tích của từng thành viên Hội đồng, Hội đồng đã thống nhất được 14 đề tài đưa vào nhiệm vụ khoa học công nghệ của tỉnh (trong đó có 2 đề tài do Sở tài nguyên và môi trường đề xuất đó là: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất vùng núi tỉnh Quảng Nam, giải pháp sử dụng đất bền vững’ và “Giải pháp tổng hợp tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”); nội dung của 2 đề tài được thông qua theo đề xuất mà hỗ trợ kinh phí cho cơ quan chủ trì để thực hiện và 4 đề tài không được thông qua.

Thanh Hà

Huyện Núi Thành: Tổ chức xét duyệt đề cương dự án

Email In PDF.

Khu vực vũng An Hoà thuộc huyện Núi Thành là môi trường sống, điều kiện thuận lợi cho sự sinh nở, cư trú, phát triển các loài thuỷ hải sản và là nơi phân bố thảm cỏ biển, rừng ngập mặn lớn, đa dạng. Nó đóng vai trò rất lớn về tự nhiên, phát triển kinh tế đặc biệt là thuỷ sản ven bờ, giao thông vận tải biển. Việc hình thành và đi vào hoạt động của các khu công nghiệp, các cảng như: Kỳ Hà, Trường Hải, cảng cá Tam Quang, nạo vét luồng, nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch,... thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tại khu vực, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên, việc xả thải vào nguồn nước của các hoạt động này vào vũng An Hoà đang gây tác động xấu đến hệ sinh thái rừng ngập mặn và thảm cở biển, đồng thời đến sự phát triển của các loài thuỷ sản tại khu vực.

Xet_duyet_du_an_NT

Xuất phát từ nhu cầu cần thiết và thực hiện nhiệm vụ về quản lý môi trường biển đảo năm 2013 trên địa bàn huyện Núi Thành, ngày 30/7/2013 UBND huyện Núi Thành tổ chức cuộc họp xét duyệt đề cương dự án “Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng xả thải và đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ vùng đất ngập nước vũng An Hoà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Núi Thành làm chủ dự án;

Dự án với mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp, biện pháp hiệu quả công tác kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên và môi trường vùng đất ngập nước vũng An Hoà nhằm xây dựng cơ sở khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nước đưa ra những giải pháp hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiển đảm bảo sự phát triển bền vững.

Dự án đã được Hội đồng xét duyệt đánh giá cao và thống nhất đề nghị UBND huyện phê duyệt cho triển khai.

 

Bùi Thị Hồng

Kiểm tra tình hình thực hiện dự án trồng cây cao su trên địa bàn huyện Bắc Trà My

Email In PDF.

Để đánh giá tình hình triển khai thực hiện Dự án trồng cây cao su trên địa bàn huyện Bắc Trà My, trong hai ngày 27 và 28 tháng 5 năm 2013 UBND huyện Bắc Trà My đã tổ chức buổi làm việc với Công ty TNHH MTV Cao su Nam Giang và Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Nam, các ngành của huyện và các địa phương có liên quan để nghe báo cáo kết quả tiến độ thực hiện và những khó khăn vướng mắc trong thời gian qua.

Chủ trì buổi làm việc, ông Trần Anh Tuấn - Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My đã đánh giá cao về sự phối hợp của Công ty TNHH MTV Cao su Nam Giang và Cao su Quảng Nam trong quá trình triển khai thực hiện Dự án trồng cây cao su tại các xã trên địa bàn huyện, đến nay đã hoàn thành công tác lập quy hoạch, xây dựng quy chế hưởng lợi, đo đạc giải thửa và đã có một số diện tích đưa vào san ủi để trồng cây. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc cần giải quyết đó là:

-Về thủ tục đất đai chưa được thực hiện đúng theo các quy định nên đề Nghị Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Nam và Cao su Nam Giang tiếp tục phối hợp với các ngành chức năng liên quan và các địa phương để hoàn chỉnh các thủ tục đất đai theo yêu cầu để đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết.

-Về quy chế hưởng lợi các ngành, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Công ty để xây dựng quy chế hưởng lợi giữa người dân với Công ty sao cho hài hòa về lợi ích, không trái với các quy định của pháp luật.

-Về thỏa thuận đất đai giữa người dân với Công ty phải trên cơ sở phạm vi được quy hoạch và sự tự nguyện của người dân.

Kết thúc buổi làm việc ông Trần Anh Tuấn đề nghị Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Nam và Cao su Nam Giang khẩn trương triển khai thực hiện các công việc theo yêu cầu của huyện, đồng thời chỉ đạo các ngành có sự phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiền cho Công ty sớm được thực hiện dự án theo kế hoạch đề ra.

Phạm Minh Tài

Trang 1 trong tổng số 4