Nước, KTTV

Tham vấn kế hoạch hành động quốc gia về biến đổi khí hậu

Email In PDF.

Ngày 16/7/2020, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu phối hợp với UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức Hội thảo tham vấn Kế hoạch hành động quốc gia về Biến đổi khí hậu (BĐKH); Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, phiên bản 2020. Tham dự và chủ trì Hội thảo có: GS.TS Trần Thục - Phó Chủ tịch Hội đồng tư vấn UBQG về BĐKH; PGS.TS Nguyễn Văn Thắng - Viện trưởng Viện KTTV&BĐKH; Ths Lê Thị Tuyết Hạnh - PGĐ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam; lãnh đạo Viện, Trung tâm nghiên cứu của Viện KTTV&BĐKH; Đại diện lãnh các Sở, ban, ngành, Hội, Đoàn thể, các Ban Quản lý của tỉnh Quảng Nam.

IMG 20200716 135555 resized 20200720 103350583 - Copy
Hội thảo đã nghe Viện KTTV&BĐKH trình bày 02 dự thảo: Kế hoạch hành động quốc gia về Biến đổi khí hậu và Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam, phiên bản 2020. Đại diện các Sở, ban, ngành, Đoàn thể của tỉnh đã đóng góp nhiều ý kiến để Viện KTTV&BĐKH hoàn thiện dự thảo của 02 báo cáo nêu trên.
Thay mặt Ban soạn thảo, GS.TS Trần Thục và PGS.TS Nguyễn Văn Thắng đã đánh giá cao kết quả đạt được tại Hội thảo; những ý kiến góp ý của các đại biểu là cơ sở để Ban soạn thảo và Viện tiếp thu và hoàn thiện để trình Chính phủ phê duyệt trong thời gian đến.

Thu Hằng

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội làm việc tại tỉnh Quảng Nam

Email In PDF.

Sáng ngày 05/7/2020, Đoàn công tác của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, do đ/c Phùng Quốc Hiển - Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng đoàn; đ/c Phan Xuân Dũng, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UBKH, CN&MT Quốc hội – Phó Đoàn; đ/c Nguyễn Đức Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm UB-TC ngân sách Quốc hội và lãnh đạo các Bộ: TN&MT, NN&PTNT kiểm tra thực tế Nhà máy thủy điện A Vương, Đăk Mi 4 và làm việc với tỉnh Quảng Nam về an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ, đập. Về phía tỉnh Quảng Nam tham dự làm việc với Đoàn có đ/c Hồ Quang Bửu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các Sở: TN&MT, Công Thương, NN&PTNT.

IMG 1581 - Copy
Đoàn công tác đã tiến hành khảo sát thực tế tại Nhà máy thủy điện A Vương và Đăk Mi 4; Nghe lãnh đạo UBND tỉnh báo cáo về an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt, quản lý an toàn hồ, đập; điều tiết nước; quản lý chất lượng nguồn nước và kiểm sát phòng, chống ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã đưa vào vận hành, khai thác sử dụng 73 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích xấp xỉ 525 triệu mét khối nước, 262 trạm bơm điện; 867 đập dâng cấp nước tưới cho gần 74.000ha/năm; 22 công trình thủy điện với tổng công suất hơn 1.273MW và 473 công trình cấp nước nông thôn. Công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường, bảo vệ nguồn nước được thực hiện thường xuyên. Trên địa bàn tỉnh đã có 03 nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung với tổng công suất 16.750 m3/ngày đêm và 07 nhà máy xử lý nước thải công nghiệp công suất 44.800 m3/ngày đêm; đưa vào vận hành hệ thống thiết bị kết nối tự động giám sát hoạt động xả nước thải vào nguồn nước; đang triển khai lắp đặt thiết bị thu nhận, lưu trữ dữ liệu giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định tại Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07/11/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Tại buổi làm việc UBND tỉnh đề nghị Quốc hội xem xét, hỗ trợ kinh phí để đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới các công trình thủy lợi, nước sạch như: xây dựng mới các hồ chứa nước tại các huyện Tiên Phước, Phú Ninh, Đại Lộc...; nâng cấp, sửa chữa đảm bảo an toàn 18 hồ chứa thủy lợi hiện bị hư hỏng, xuống cấp; xây dựng đập ngăn mặn trên sông Vĩnh Điện; đầu tư xây dựng hệ thống nước sạch tập trung từ hồ chứa Khe Tân để cấp cho 7 xã vùng B, huyện Đại Lộc và các khu dân cư lân cận...
Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển ghi nhận và đánh giá cao vai trò của UBND tỉnh Quảng Nam trong công tác đảm bảo an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập, đảm bảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân. Trước tác động của biến đổi khí hậu, tình trạng xâm nhập mặn vùng hạ lưu đang diễn ra ngày càng khốc liệt, tỉnh Quảng Nam cần có các giải pháp ứng phó, chú trọng xây dựng quy hoạch các hệ thống thủy lợi, thủy điện và các đập ngăn mặn. Những đề xuất, kiến nghị của tỉnh Quảng Nam và Công ty CP Thủy điện A Vương, đoàn công tác sẽ tổng hợp, báo cáo Thường vụ Quốc hội xem xét, giải quyết./.

Ngọc Văn

Nhiệm vụ “Cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050” và “Đánh giá khí hậu tỉnh Quảng Nam”

Email In PDF.

Ngày 17/6/2020, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Trung tâm Động lực học Thủy khí môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội tổ chức Hội thảo góp ý nhiệm vụ "Cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050" và "Đánh giá khí hậu tỉnh Quảng Nam".

image002nhTham dự và chủ trì Hội thảo có Bà Lê Thị Tuyết Hạnh - Phó Giám đốc Sở, cùng đại biểu là các Sở, ban, ngành: Nông nghiệp và PTNT, Công Thương, Giao thông vận tải, Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu tư, Thông tin và Truyền thông, Lao động Thương binh và Xã hội, Văn hóa Thể thao và Du lịch, các Ban quản lý đầu tư xây dựng; các Hội, đoàn thể; Lãnh đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố; Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tại Hội thảo Trung tâm Động lực học Thủy khí môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội trình bày kết quả thực hiện nhiệm vụ "Cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050", "Đánh giá khí hậu tỉnh Quảng Nam" và đề xuất Dự thảo "Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050". Tại Hội thảo, Sở Tài nguyên và Môi trường nhận được sự góp ý của các Sở, ngành, đơn vị, đoàn thể và địa phương cho nhiệm vụ và Dự thảo Kế hoạch hành động nêu trên.
Qua đó, Bà Lê Thị Tuyết Hạnh - Phó Giám đốc Sở yêu cầu Trung tâm Động lực học Thủy khí môi trường tiếp thu các ý kiến của đại biểu; đồng thời, tiếp tục làm việc với các Sở, ngành và địa phương thu thập bổ sung các tài liệu, số liệu cần thiết để hoàn thiện nhiệm vụ và để Sở sớm lấy ý kiến Bộ Tài nguyên và Môi trường trước khi trình UBND tỉnh phê duyệt, thực hiện.

Nguyễn Hướng

Sửa đổi quy định về cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Email In PDF.

Ngày 21/5, tại Hà Nội, Bộ TN&MT đã tổ chức cuộc họp Ban soạn thảo, tổ biên tập Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về phương pháp tính mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Tham dự có đại diện các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), và đại diện các cơ quan liên quan thuộc Bộ TN&MT.

2152020-toancanh

Báo cáo tại cuộc họp, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh cho biết, từ khi Nghị định có hiệu lực đến ngày 9/4/2020, Bộ TN&MT đã phê duyệt 593 Quyết định cấp quyền khai thác tài nguyên nước với tổng số tiền gần 9.500 tỷ đồng. Trong đó, có 112 công trình khai thác nước dưới đất và 481 công trình khai thác nước mặt. Các tỉnh đã phê duyệt trên 3.300 Quyết định với tổng số tiền hơn 637 tỷ đồng.

Nhằm tăng cường hiệu quả của chính sách cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tăng thu cho ngân sách và bảo vệ khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước, Bộ TN&MT đề xuất sửa đổi Nghị định số 82/2017/NĐ-CP. Bộ TN&MT đã trình Chính phủ đưa việc sửa đổi này vào Chương trình công tác năm 2020. Sau khi gửi văn bản đề nghị góp ý nội dung sửa đổi, đến nay, Bộ đã nhận được 54 văn bản của địa phương và 4 Bộ. Trên cơ sở này, Cục Quản lý tài nguyên nước đã tổ chức nhiều cuộc họp báo cáo về hướng sửa đổi Nghị định.

Dự thảo Nghị định đề nghị sửa đổi, bổ sung tổng cộng 7 Điều, 3 Phụ lục và đề nghị bãi bỏ 1 phụ lục của Nghị định 82. Theo ông Vĩnh, những sửa đổi bổ sung này không thay đổi về đối tượng thu, mức thu mà chỉ làm rõ và điều chỉnh theo hướng thuận tiện hơn cho các tổ chức cá nhân trong việc kê khai hồ sơ nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Cụ thể, trong Chương I, khoản 1, khoản 2 Điều 2 bổ sung mục đích việc khai thác nước sử dụng cho mục đích gia nhiệt (tương tự khai thác nước để làm mát máy). Trong Điều 4, khoản 2 về căn cứ tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước sửa đổi bổ sung theo hướng sát với thực tế địa phương và khoản 4 theo hướng thay đổi tầng chứa nước thành chiều sâu giếng.

Trong Chương II, sửa đổi bổ sung khoản 4, khoản 5, khoản 6 Điều 7 theo hướng bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể căn cứ xác định tỷ lệ cấp nước cho các mục đích của hệ thống cấp nước tập trung, làm cơ sở tính sản lượng tính tiền cấp quyền khai thác nước; bỏ quy định về thời điểm dự kiến vận hành; bổ sung quy định về ghi rõ thời gian có hiệu lực của giấy phép nhằm xác định thời điểm đầu và thời điểm cuối phục vụ tính tiền cấp quyền khai thác.

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 8 theo hướng quy định rõ mục đích khai thác, sử dụng nước áp dụng mức nào trong khung tính giá thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên do Bộ Tài chính ban hành. Đồng thời, bổ sung một khoản mới quy định về thời điểm áp dụng các mức giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.

Sửa đổi, bổ sung Điều 11 theo hướng quy định thủ tục phê duyệt cấp quyền khai thác tài nguyên nước độc lập với thủ tục cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước đối với trường hợp công trình chưa vận hành khai thác.

Sửa đổi, bổ sung Điều 12 theo hướng điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước phải căn cứ vào giá tính tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước tại thời điểm phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; trừ trường hợp công trình bị hư hỏng hoặc phải ngừng khai thác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì căn cứ vào giá tính tiền lần đầu. Đồng thời, rà soát bỏ những trường hợp điều chỉnh tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước bị trùng lặp.

Sửa đổi, bổ sung Điều 14 theo hướng bổ sung quy định nộp tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước 1 lần đối với trường hợp số tiền cấp quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước nhỏ hoặc tổ chức, cá nhân tự lựa chọn tại khoản 1 Điều 14 của Nghị định. Bổ sung một khoản quy định về việc nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với các tỉnh có hồ chứa, có công trình khai thác tài nguyên nước.

Tại cuộc họp, đại diện các Bộ và cơ quan trong ban soạn thảo, tổ biên tập đã góp ý nhằm hoàn thiện nội dung dự thảo Nghị định. Một số vấn đề tiếp tục được bàn thảo như: có nên quy định một số đối tượng không phải nộp tiền; trách nhiệm của đơn vị phân phối và kinh doanh nước sạch (không có công trình khai thác); quy định loại hình sản xuất, kinh doanh nào thì áp dụng khung giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên; tách thủ tục phê duyệt tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với công trình chưa khai thác, sử dụng tài nguyên nước thành thủ tục hành chính độc lập.

Ông Châu Trần Vĩnh cho biết, đây là Nghị định có ý nghĩa quan trọng về quản lý tài nguyên nước, giúp nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân theo hướng sử dụng, khai thác tài nguyên nước tiết kiệm và hiệu quả hơn. Bộ TN&MT sẽ tiếp thu các ý kiến của Ban soạn thảo, tổ biên tập để hoàn thiện dự thảo Nghị định, gửi hồ sơ lấy ý kiến của UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, ngành, VCCI, các hiệp hội có liên quan và tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước lớn.

Nguồn: www.monre.gov.vn

Thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (Quy trình 1865)

Email In PDF.

Ngày 10/3/2020, UBND tỉnh tổ chức cuộc họp nghe báo cáo việc thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn theo Quyết định 1865/QĐ-TTg ngày 23/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ (thay thế Quyết định số 1537/QĐ-TTg). Dự và chủ trì cuộc họp có đ/c Lê Trí Thanh – Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các Sở, ngành: Nông nghiệp và PTNT, Công Thương, TN&MT, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT&TKCN tỉnh, Đài KTTV tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố: Đại Lộc, Hội An, Điện Bàn, Duy Xuyên, Công ty Khai thác thủy lợi Quảng Nam và các nhà máy thủy điện trên lưu vực VG-TB: A Vương, Sông Tranh 2, Đak Mi 4, Sông Bung 4.
Tại cuộc họp Văn phòng BCH PCTT&TKCN tỉnh báo cáo những nội dung thay đổi của Quy trình 1865 so với Quy trình 1537, cụ thể: Vận hành trong mùa cạn có sự phân chia cấp lưu lượng và quy định thời gian bắt đầu vận hành, kết thúc, lưu lượng trung bình ngày xả về hạ du, quy định căn cứ theo giới hạn mực nước ứng với thời gian 10 ngày để điều tiết vận hành lưu lượng xả; quy định các thời kỳ của mùa cạn; Quy trình vận hành, điều tiết các hồ chứa trong mùa lũ; bổ sung thêm các hồ, đập và nhà máy nước Cầu Đỏ vào Quy trình (theo Quy trình 1865 hiện có 19 hồ chứa thủy điện tham gia vào Quy trình); Quy trình cũng có sự thay đổi về quy định trách nhiệm, thẩm quyền quyết định vận hành các hồ trong mùa cạn và mùa lũ đối với Trưởng BCH PCTT&TKCN tỉnh Quảng Nam và TP.Đà Nẵng; Quy định trách nhiệm, tổ chức vận hành các hồ chứa và cung cấp thông tin, báo cáo của các đơn vị liên quan; điều chỉnh những vấn đề còn thiếu và bất cập của Quy trình 1537 . . .
Sau khi nghe ý kiến tham gia của các chủ hồ chứa thủy điện, đại diện các Sở, ngành liên quan, Chủ tịch UBND tỉnh kết luận một số nội dung sau:
- Việc ban hành Quy trình 1865 thay thế Quy trình 1537, mặc dù vẫn còn những điểm chưa phù hợp với thực tế, tuy nhiên đề nghị các chủ hồ phải nghiêm túc tuân thủ chấp hành.
- Đề nghị Văn phòng BCH PCTT&TKCN: Xây dựng bảng so sánh giữa Quy trình 1865 và Quy trình 1537 và đưa ra các giải pháp ứng phó cụ thể gửi cho các địa phương theo dõi, chỉ đạo; Đánh giá, phân tích những điểm bất cập của Quy trình 1865 đề xuất hướng xử lý, để báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh có hướng chỉ đạo cụ thể.
- Sở NN&PTNT phối hợp với Sở Công Thương làm việc với Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia phối hợp cung cấp thông tin khi Trung tâm huy động các nhà máy vận hành.
- Sở TN&MT phối hợp với các địa phương tuyên truyền, phổ biến Quyết định số 05/2020/QĐ-TTg ngày 31/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định mực nước tương ứng với các cấp báo động lũ trên các sông; theo dõi việc vận hành Quy trình 1865 của các chủ hồ chứa thủy điện.

- Các chủ hồ chứa có quan hệ với hạ du sớm ban hành quy chế phối hợp với nhau thay thế quy chế cũ; xây dựng quy chế phối hợp giữa các chủ hồ chứa với Văn phòng BCH PCTT&TKCN tỉnh, cấp huyện; các chủ hồ sớm hoàn thành việc lắp đặt các thiết bị quan trắc theo quy định của Thông tư 47.
- Đài KTTV tỉnh làm việc với các cơ quan chức năng liên quan để sớm nâng cấp trạm thủy văn Hội Khách; cung cấp số liệu mực nước thực đo ngày trước cho thủy điện Đak Mi 4 phục vụ công tác vận hành./.

Trần Ngọc Văn

Trang 1 trong tổng số 33