Bạn đang ở:

News

Để nhiên liệu sinh học đi vào cuộc sống

Email In PDF.

untitledTriển khai Quyết định 177 của Thủ tướng Chính phủ về "Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025" (Đề án 177) nhằm phát triển nhiên liệu sinh học (NLSH), một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường, phù hợp với xu thế phát triển chung trên thế giới, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã đi đầu trong việc hiện thực hóa đề án, tập trung xây dựng kế hoạch và chương trình triển khai các dự án sản xuất NLSH. Quá trình này còn nhiều khó khăn, vướng mắc, cần có một cơ chế, chính sách phù hợp để NLSH đi vào cuộc sống.

Ông Nguyễn Sinh Khang, Phó TGĐ PVN cho biết: Tập đoàn đã đầu tư 3 Nhà máy sản xuất cồn sinh học làm nguyên liệu cho pha chế xăng sinh học tại các tỉnh Phú Thọ, Quảng Ngãi, Bình Phước với tổng công suất 300 triệu lít/năm. Thành lập Ban Chỉ đạo triển khai các dự án NLSH và giao cho TCT Dầu Việt Nam (PV Oil), TCT Thương mại Kỹ thuật và Đầu tư (PETEC) - thành viên của Tập đoàn triển khai thí điểm việc kinh doanh xăng E5.
Kết quả bước đầu
Hiện cả 3 Dự án NLSH tại Phú Thọ, Quảng Ngãi và Bình Phước với tổng công suất 300 triệu lít cồn/năm, tổng mức đầu tư 270 triệu USD đều đang đẩy nhanh tiến độ để sớm có sản phẩm đưa vào thị trường. Nguyên liệu sử dụng cho 3 nhà máy trên 750 nghìn tấn/năm sắn lát. Chủ đầu tư là các Công ty cổ phần do các đơn vị thành viên của PVN, Ngân hàng SEABANK, Công ty Itochu (Nhật Bản). Sản phẩm của các nhà máy bao gồm Ethanol, phân vi sinh hoặc thức ăn cho gia súc, CO2 thực phẩm, bio-gas metan. Dự án NLSH Phú Thọ, Quảng Ngãi sẽ vận hành thương mại vào tháng 11 năm 2011; Dự án Bình Phước hoàn thành vào quý 2 năm 2012.
Xác định nguyên liệu là yếu tố đầu vào quyết định sự vận hành ổn định, hiệu quả của Nhà máy, PVN đã chỉ đạo các nhà máy xây dựng kế hoạch thu mua và phát triển vùng nguyên liệu (VNL) sắn lát cung cấp cho các dự án. Ký hợp đồng thu mua với các doanh nghiệp (DN) cung cấp sắn trong nước. Xây dựng đề án phát triển VNL sắn tại các địa bàn gần Nhà máy. Đến nay, Dự án NLSH Phú Thọ đã trồng được trên 1000ha giống sắn KM34 năng suất trên 30 tấn/ha, không gây hại cho tài nguyên đất, nước và tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người nông dân. Để thúc đẩy việc hình thành thị trường NLSH, năm 2010 PVOil và PETEC triển khai phân phối kinh doanh xăng E5 tại một số tỉnh thành trong cả nước. PVN đã đầu tư cải tạo xe bồn vận chuyển xăng E5, 4 trạm pha chế, sửa chữa 38 trạm, cửa hàng xăng dầu tại 12 tỉnh trên cả nước; xin cấp chứng chỉ hợp quy sản phẩm, tuyên truyền quảng bá trên phương tiện thông tin đại chúng, chi phí hỗ trợ ban đầu để thu hút đại lý/Tổng đại lý giảm giá bán lẻ để khuyến khích người tiêu dùng. Tập đoàn đã có Công văn gửi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, làm việc với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính kiến nghị một số cơ chế chính sách ưu đãi để hỗ trợ đầu tư sản xuất Ethanol, phát triển VNL, hỗ trợ nông dân trồng sắn cũng như tiêu thụ xăng E5. Đến nay, mới nhận được một số ưu đãi hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất Ethanol như : Không thu thuế môi trường với xăng Ethanol và áp dụng thuế xuất khẩu bằng "O"
Cần có cơ chế, chính sách ưu đãi
Hiện giá thành sản xuất NLSH thường bằng hoặc cao hơn giá xăng thông thường và phụ thuộc nhiều vào giá nguyên liệu đầu vào của nông dân. Theo Đề án 177, các dự án NLSH được xếp vào danh mục đặc biệt ưu đãi đầu tư, nhưng khi áp dụng còn nhiều vướng mắc như: Mới chỉ áp dụng cho doanh nghiệp (DN) sản xuất NLSH mà không áp dụng cho DN kinh doanh, pha chế và phân phối xăng E5, trong khi việc phân phối đóng vai trò quan trọng trong tiêu thụ, quyết định tới khâu sản xuất. Do đặc tính kỹ thuật, xăng E5 cần đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng cho pha chế, lưu trữ và phân phối, nhưng chi phí khá lớn, cần đầu tư khoảng 90 triệu đồng/cửa hàng xăng dầu với 3 cột bơm và khoảng 3,2 tỷ đồng/ hệ thống phối trộn tại Tổng kho. Với thị phần và năng lực hiện tại, nếu đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất tối đa, PVOil, PETEC cũng chỉ có khả năng phân phối 2,37 triệu m3 chiếm khoảng 50% sản lượng xăng E5 dự kiến sản xuất, 50% lượng xăng E5 còn lại phải được phân phối bởi các đơn vị kinh doanh khác. Thị trường xăng E5 trong nước chưa hình thành, người tiêu dùng chưa có thói quen sử dụng; để tuyên truyền quảng bá, nâng cao ý thức của người dân sử dụng NLSH cần có sự hỗ trợ của Chính phủ cả về tài chính và pháp luật.
Phát triển NLSH là hướng đi đúng, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng, PVN đề nghị Chính phủ, các Bộ ngành liên quan xem xét hỗ trợ việc hình thành thị trường tiêu thụ xăng sinh học: Chính phủ sớm ban hành Lộ trình bắt buộc sử dụng xăng E5 trong phạm vi toàn quốc và xem xét lộ trình đưa xăng E10 vào thị trường tiêu thụ để các DN kinh doanh NLSH chủ động đầu tư hệ thống tồn trữ, vận chuyển, phân phối và quảng cáo tiếp thị. Trong khi thị trường NLSH ở Việt Nam chưa hình thành, cần miễn 100 % phí xăng dầu đối với xăng E5 trong năm 2011 khi Luật Thuế Bảo vệ môi trường chưa có hiệu lực. Miễn Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng E5 đưa vào lưu thông. Đối với các nhà sản xuất Ethanol nhiên liệu và người nông dân cần quy hoạch đủ quỹ đất để phát triển VNL. Bộ NN&PTNT nghiên cứu các loại giống sắn mới chất lượng tốt, kỹ thuật canh tác hiện đại để chuyển giao cho nông dân áp dụng, nâng cao năng suất.Các Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT, Bộ LĐ-TB&XH nghiên cứu xây dựng cơ chế cấp vốn tín dụng ưu đãi thuộc Chương trình hỗ trợ tín dụng cho hộ nông dân nghèo trồng sắn. Cho phép các đơn vị đầu tư nhà máy sản xuất Ethanol được vay vốn từ nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, góp phần giảm giá thành sản xuất Ethanol trong nước.
(Theo monre)

Hạn hán – nguy cơ từ biến đổi khí hậu

Email In PDF.

hhHạn hán ở nước ta gây tổn thất nghiêm trọng thứ ba sau bão và lũ lụt. Tuy ít gây thiệt hại trực tiếp về người nhưng thiệt hại về kinh tế, xã hội, là hết sức phức tạp, gây hậu quả lâu dài, khó khắc phục.

Ngoài sự gia tăng nhu cầu nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, tình trạng khô hạn có thể xảy ra do biến đổi khí hậu. Đó là một trong những kết luận từ nghiên cứu* về tác động của biến đổi khí hậu đến thiên tai, được đăng tải trên Tạp chí Khí tượng  Thủy Văn 3/2011.

Khảo sát của nghiên cứu này cho thấy trong những năm gần đây, lượng mưa trên các lưu vực sông trong các tháng cuối mùa, nhất là mùa khô thiết hụt so với trung bình nhiều năm khá nhiều, có nơi thiếu hụt nghiêm trọng.

Tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, theo số liệu thời kỳ 1980- 2009, tại 24 trạm thủy văn chốt trên lưu vực sông chính đã xuất hiện các giá trị cực hạn; tại các hạ lưu sông đều thấy rõ xu hướng giảm mực nước thấp nhất năm.

Ở Nam Bộ, phân tích kết quả 18 trạm thủy văn cho thấy xu hướng xu hướng gia tăng mực nước thấp nhất trong năm ở ĐBSCL, trong đó tăng nhiều hơn ở các khu vực ven biển Đông, tăng ít hơn khi vào trong nội địa. Điều này cho thấy sự gia tăng xâm nhập mặn vào nội địa, làm cho hạn hán thiếu nước ngọt ở ĐBSCL. Lượng nước ở các sông suối thượng nguồn vùng Đông Nam Bộ có xu hướng gia tăng trong vòng 30 gần đây, nhưng tại hạ lưu các sông, mực nước thấp nhất có xu hướng giảm.

Dựa trên các khảo sát thực tế về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình trạng hạn hán, nghiên cứu khuyến cáo: Để thích ứng với BĐKH, giảm nguy cơ xảy ra hạn hán thiếu nước, giảm thiệt hại khi hạn hán xảy ra chúng ta cần tăng cường xây dựng chính sách, thể chế và nhận thức trong xã hội; thực thi những giải pháp đồng bộ, tăng cường quản lí tổng thể các lưu vực sông, bảo vệ và bảo đảm nguồn nước đáp ứng các nhu cầu khi hạn hán; chuyển đổi nhận thức và hành động, tập quán để bảo đảm phát triển kinh tế xã hội hài hòa với điều kiện nguồn nước lưu vực ở địa phương.

Thiennhien.net

Ứng dụng công nghệ viễn thám trong môi trường

Email In PDF.

vtTrong lĩnh vực bảo vệ môi trường, công nghệ viễn thám được coi như một công cụ quan trắc hữu ích nhằm theo dõi những biến động của môi trường theo thời gian, phát hiện kịp thời những ảnh hưởng bất lợi của các hiện tượng thiên nhiên và tác động của con người lên sự phát triển bền vững.


Năm 2011, Trung tâm Viễn thám Quốc gia sẽ tiến hành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ 1/5.000 khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); thành lập bộ bản đồ biến động đường bờ biển Việt Nam tỷ lệ 1/100.000 cho toàn tuyến bờ và tỷ lệ 1/25.000 cho các đoạn bờ trọng điểm giai đoạn 1965 - 2010 bằng ảnh viễn thám,… Trung tâm tiếp tục đầu tư trang thiết bị, bảo trì Trạm thu ảnh vệ tinh phục vụ giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Cũng trong năm 2011, Trung tâm phấn đấu sẽ phủ trùm khoảng 60% lãnh thổ Việt Nam với dữ liệu ảnh SPOT5…

Ông Phạm Việt Hồng, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết: “Những hiện tượng thiên nhiên thường được quan trắc là theo dõi những diễn biến lũ lụt và đánh giá tác động của chúng, đồng thời đề xuất các biện pháp dự báo và phòng tránh hiệu quả; theo dõi hiện tượng cháy rừng và các dạng mất rừng, thái hóa rừng... Quan trắc đánh giá những tai biến môi trường như sạt lở đất, hoặc xói mòn đất, thoái hóa đất, thoái hóa rừng... Ngoài những hiện tượng biến đổi trong thiên nhiên có tính chất toàn cầu, trên diện rộng như suy giảm diện tích rừng, sa mạc hóa, thay đổi bề mặt nhiệt độ nước biển, một số hiện tượng ô nhiễm có tính chất liên lục địa cũng được quan trắc và xử lý bằng công nghệ viễn thám.”

Việc tích hợp tư liệu viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường mang ý nghĩa to lớn bởi nhiều ưu điểm như giàu thông tin, chu kỳ thu nhận thông tin ngắn, xử lý thông tin trên diện rộng, không phụ thuộc vào tình hình kinh tế-xã hội trên mặt đất. Đây là công cụ hữu hiệu giúp cho việc nghiên cứu, điều tra tài nguyên và nắm bắt thông tin nhanh chóng, đồng bộ trên diện rộng.

Dữ liệu viễn thám khi tích hợp với GIS sẽ là nguồn tư liệu khách quan mang tính kế thừa và đổi mới liên tục trong bản đồ số, thực sự trở thành công cụ hiệu quả trong nghiên cứu sự biến động của các thành phần tài nguyên-môi trường trên bề mặt đất và là tư liệu đáng tin cậy cho các nhà chuyên môn tham khảo trong nhiều lĩnh vực.

Tiêu biểu nhất là ứng dụng công nghệ viễn thám- GIS để đánh giá tác động môi trường lưu vực sông sông Cầu, qua đó đã xây dựng được cơ sở dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất và lớp phủ mặt đất lưu vực sông này, có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng đối với vấn đề quy hoạch và quản lý môi trường lưu vực sông Cầu của 6 tỉnh phía Bắc gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Hải Dương.

Theo TTXVN

Biến nước thải sinh hoạt thành nước sạch

Email In PDF.
Một nhóm sinh viên ĐH Bách khoa Đà Nẵng đã miệt mài nghiên cứu biến nước thải sinh hoạt thành nước sạch bằng mô hình đất ướt với các loại cây được ứng dụng là cây chuối hoa và chuối nước.
Đề tài “Nghiên cứu kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hồ công viên 29-3 (Đà Nẵng) bằng mô hình đất ướt” do nhóm bốn bạn sinh viên khoa môi trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng: Lê Văn Sơn, Phan Thị Kim Ngà, Phạm Phú Lâm, Trịnh Vũ Long thực hiện đoạt giải nhất trong Ngày hội Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2010 cấp trường.
Đối tượng nghiên cứu là cây chuối hoa (tên khoa học là cannan geniralis bail).
 
Cây chuối hoa
Hiện nay tình trạng khan hiếm nước sạch, thiếu nước đang diễn ra ở rất nhiều nơi trên thế giới. Theo thống kê, tình trạng thiếu nước sẽ đe dọa đến 4 tỉ người trên toàn cầu. Tại Việt Nam, ở một số nơi cũng đang lâm vào tình trạng báo động thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, như tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Bình Thuận, Ninh Thuận, Long An và một số huyện đảo.
Bắt nguồn từ thực tế đó, nhóm sinh viên nói trên đã nghiên cứu, tìm giải pháp để góp phần vào việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, thông qua việc tái sử dụng lượng nước thải từ các hộ gia đình.
Hằng ngày nhóm nghiên cứu đã lấy nước được bơm từ cống thải vào bồn chứa (thể tích 1m3), sau đó điều chỉnh van của các ống dẫn tùy theo thời gian nước lưu của các mô hình trồng cây chuối hoa. Sau đó mỗi ngày tiến hành lấy mẫu nước đầu ra ở các mương thu nước vào lúc 7g sáng, tiến hành phân tích các chỉ tiêu: SS, TDS, DO, pH, độ kiềm toàn phần, độ axit toàn phần...
Kết quả, các cây chuối hoa đều cho hoa và sinh chồi mới, cây non rất nhiều chứng tỏ cây đã thích nghi tốt với nguồn nước thải trong mô hình đất ướt. Mô hình đất ướt dễ xây dựng và vận hành với kinh phí thấp so với các hệ thống xử lý nước thải đắt tiền, có hiệu suất chuyển hóa cao, chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn B.
 
Ước mong nhân rộng mô hình
Suốt một năm nghiên cứu, nhóm phân tích khả năng xử lý chất thải trong sinh hoạt của loại cây này. “Nước thải sinh hoạt hằng ngày của hộ gia đình chủ yếu là nitơ và phốtpho, đây cũng là chất dinh dưỡng nuôi sống cây chuối hoa” - Lê Văn Sơn cho biết.
Không dừng lại ở đó, Lê Văn Sơn (SV lớp 07MT1) ứng dụng mô hình này vào việc xử lý nước thải sinh hoạt trong hộ gia đình. Nước thải từ nhà tắm, nhà bếp được chứa trong bồn để điều tiết áp lực. Bể trồng cây - điểm đến tiếp theo của dòng nước thải - được trồng nhiều cây chuối hoa. Bể trồng cây sẽ luôn ngập nước. Và đất cát sẽ giữ các tạp chất, còn rễ cây chuối hoa thì xử lý chất thải, sau đó lượng nước dư chảy từ bể trồng cây được tái sử dụng.
Điểm đến đầu tiên của mô hình này là quán cà phê Văn (111 Lê Lợi, TP Đà Nẵng). Nhận được sự chào đón và hỗ trợ của chủ quán, Sơn và nhóm bạn bắt tay lắp đặt mô hình. Mô hình này nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình bởi nước sau khi xử lý đạt mức độ B, có thể dùng tưới cây, nuôi cá cảnh, rửa chén.
Lê Văn Sơn còn thuyết phục bạn bè cho phép lắp đặt mô hình này tại nhà như một cách tăng lòng tin của cộng đồng về việc ứng dụng khoa học vào đời sống.
“Những mô hình xử lý nước thải hiện nay phần lớn khá tốn kém. Mô hình đơn giản có thể giúp hộ gia đình nhỏ tái sử dụng nguồn nước, tăng mỹ quan đô thị và ý nghĩa hơn là thải ra môi trường loại nước sạch tương đối giảm ô nhiễm cho môi trường” - Sơn chia sẻ.
Theo Tuổi trẻ

Trao 8 tỷ đồng cho 30 ý tưởng đối phó với biến đổi khí hậu

Email In PDF.

kh02Ngày 6/5/2010, tại Hà Nội, Ban tổ chức Chương trình Ngày sáng tạo Việt Nam 2010 với chủ để “Biến đổi khí hậu” đã trao giải thưởng gần 8 tỷ đồng cho 30 Dự án cộng đồng đạt giải Cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo đối phó với biến đổi khí hậu tại cộng đồng”, với trị giá mỗi giải là 270 triệu đồng/giải. 

Trang 3 trong tổng số 4